51 năm ngày Giải phóng Đà Lạt – Lâm Đồng: Vang mãi bản hùng ca trên cao nguyên
51 năm trôi qua kể từ ngày 03/4/1975, dấu mốc lịch sử hào hùng ấy vẫn luôn vang vọng trên cao nguyên Lâm Đồng như một bản anh hùng ca bất diệt về ý chí tự cường và khát vọng độc lập dân tộc.

Ngược dòng thời gian về những năm sau Hiệp định Genève 1954, phong trào cách mạng địa phương dù đối mặt với muôn vàn gian khó khi tổ chức bị gián đoạn và lực lượng bị chia cắt, nhưng ý chí của những người cộng sản vẫn âm thầm bám rễ sâu trong lòng nhân dân để chờ ngày bùng phát.
Bước ngoặt quan trọng nhất đã đến vào tháng 8/1961 khi Khu ủy 6 quyết định thành lập Tỉnh ủy hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức, tạo nên một trung tâm lãnh đạo thống nhất nhằm xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng vũ trang và đẩy mạnh các phong trào đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang.
Là một thành phố bao quanh bởi rừng núi hiểm trở, hai trục lộ chính (đường 11 và đường 20) do địch kiểm soát, đường vận chuyển chi viện cho Đà Lạt rất khó khăn trở ngại, Đà Lạt lại không có vành đai sản xuất lương thực; mọi nhu cầu từ lương thực, thực phẩm, thuốc men và thiết yếu khác đều phải dựa vào dân nội thị. Suốt 20 năm bám trụ chiến đấu, các lực lượng hoạt động trên địa bàn đều dựa vào sự cung cấp của Nhân dân Đà Lạt. Nhân dân đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, tích trữ vũ khí, lương thực, nuôi dưỡng thương binh, nuôi gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ bám trụ hoạt động, có thời gian cung cấp, nuôi từ 4 đến 5 tiểu đoàn suốt cả tháng trời về đứng chân chiến đấu. Sự đóng góp của Nhân dân Đà Lạt có ý nghĩa rất lớn đối với công cuộc kháng chiến ở địa phương. Nổi bật là ta đã thành công trong việc “biến hậu phương của địch thành hậu phương của ta”.
Sáng ngày 3/4/1975, lúc 8 giờ 20 phút, cờ Giải phóng tung bay trên Tòa Hành chính Tuyên Đức/Đà Lạt, cơ quan đầu não của chính quyền cũ tại địa phương, đánh dấu giờ phút lịch sử: Tỉnh Tuyên Đức và thị xã Đà Lạt hoàn toàn được giải phóng. Ngày 4/4/1975, Ủy ban Quân quản thành phố Đà Lạt được thành lập. Ngày 6/4/1975, Khu ủy Khu VI ra quyết định thành lập Thành ủy Đà Lạt. Ngày 14/4/1975, hơn 10.000 Nhân dân Đà Lạt tham gia cuộc mít tinh mừng quê hương được giải phóng và đón đoàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu. Tại buổi lễ, Đảng bộ, quân và dân thành phố Đà Lạt được trao tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất. Thành phố Đà Lạt được giải phóng có những sự kiện khá đặc biệt: Không có những cuộc đụng độ vũ trang gây đổ máu, không bị mất điện, mất nước một giờ nào, không bị nạn cướp bóc phá rối, các cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh tế được tiếp quản hầu như nguyên vẹn.
Trong cuộc chiến đấu cam go và ác liệt, 733 liệt sỹ đã ngã xuống, 323 thương binh đã cống hiến một phần thân thể cho quê hương, hơn 1.100 cán bộ và đồng bào bị địch bắt tra tấn, tù đày.
Ghi nhận những đóng góp đó, Nhà nước phong tặng cho quân và dân Đà Lạt 4 Huân chương Thành đồng, 2 Huân chương Quân công, 16 Huân chương Chiến công, 3 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 73 Mẹ Việt Nam Anh hùng; xã Xuân Trường và thành phố được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; 224 gia đình được Nhà nước tặng bảng vàng danh dự “Gia đình có công với cách mạng”. Đó là sự ghi nhận, biểu dương thành tích và sự hy sinh xương máu của quân và dân Đà Lạt trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

(3/4/1975 – 3/4/1985). Ảnh: Tư liệu
Thắng lợi này không chỉ là kết quả của những chiến thuật quân sự tài tình mà còn là minh chứng cho sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nơi đồng bào các dân tộc thiểu số cùng nhân dân đô thị đã sát cánh bên nhau, đóng góp hàng triệu ngày công và xương máu để tạo nên thế trận lòng dân vững chắc.
Tiếp nối hào khí từ quá khứ oanh liệt ấy, 51 năm qua, Đảng bộ và nhân dân Lâm Đồng đã không ngừng nỗ lực biến vùng đất chịu nhiều vết thương chiến tranh trở thành một cực tăng trưởng năng động của khu vực Tây Nguyên với những bước tiến đột phá trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao và du lịch xanh bền vững. Ngày nay, một Đà Lạt mộng mơ nhưng hiện đại đang vươn mình mạnh mẽ với hệ thống hạ tầng đồng bộ, những cung đường cao tốc kết nối giao thương và tầm nhìn trở thành trung tâm di sản, du lịch đẳng cấp quốc tế, nơi giá trị văn hóa bản địa được gìn giữ vẹn nguyên bên cạnh nhịp sống phát triển sôi động.
Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỷ đã qua, bản hùng ca tháng Tư năm ấy vẫn luôn là nguồn nội lực mạnh mẽ, là bài học về sự sáng tạo và lòng dân, thôi thúc thế hệ hôm nay tiếp tục cống hiến để xây dựng cao nguyên Lâm Đồng ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh đi trước trên hành trình hướng tới tương lai.
Nguồn tư liệu: Bảo tàng Lâm Đồng & Tổng hợp lịch sử Đảng bộ địa phương.
