“Mùi cỏ cháy” (2012): Khúc tráng ca bên dòng Thạch Hãn
(LDO) – Hơn mười năm kể từ ngày ra mắt, “Mùi cỏ cháy” của đạo diễn Nguyễn Hữu Mười vẫn đứng vững như một tượng đài bi tráng, một nén tâm nhang thành kính dâng lên những người con đã ngã xuống vì độc lập, tự do.
Dựa trên những dòng nhật ký đẫm tinh thần lạc quan của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc trong cuốn “Mãi mãi tuổi hai mươi”, bộ phim đã tái hiện một chương sử khốc liệt nhưng cũng đầy kiêu hãnh về 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè năm 1972.
Sức ám ảnh của “Mùi cỏ cháy” bắt đầu từ sự tương phản nghiệt ngã giữa vẻ đẹp tinh khôi của tuổi trẻ và sự tàn bạo của chiến tranh. Bốn chàng sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội mang những cái tên ghép lại thành địa danh nghìn năm văn hiến “Hoàng – Thành – Thăng – Long” đã bước thẳng từ giảng đường ra chiến trận theo lệnh tổng động viên. Họ mang theo vào khói lửa đạn bom cả sự hồn nhiên của tuổi đôi mươi, từ thú vui chơi chọi dế, bắt ve sầu đến những vần thơ tình viết dở.

Người xem không khỏi thắt lòng trước câu nói đầy khí phách của Hoàng khi được hỏi về sự lựa chọn của mình: “Chúng em cũng hơi tiếc ạ, nhưng còn hối tiếc hơn nếu trong đội ngũ những người ra trận hôm nay không có chúng em”. Đó không phải là lời sáo rỗng, mà là bản tuyên ngôn về trách nhiệm và lòng yêu nước của một thế hệ sinh viên sẵn sàng gác lại những giấc mơ riêng để viết tiếp giấc mơ lớn của dân tộc.
Dưới ngòi bút biên kịch đậm chất thơ của cố nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm, mỗi thước phim không chỉ là sự mô tả chiến đấu mà còn là sự phân tích sâu sắc về giá trị nhân bản. Chiến tranh trong “Mùi cỏ cháy” hiện lên trần trụi, đau đớn với hình ảnh dòng sông Thạch Hãn đỏ máu, những người lính trẻ hy sinh khi chưa kịp trao gửi bức thư cuối cùng cho gia đình.
Cảnh tượng Long đứng giữa trời bom đạn kêu gào trong tuyệt vọng hay hình ảnh người chiến sĩ mù vẫn mò mẫm cầm lựu đạn ra trận đã đẩy cảm xúc của khán giả lên đến cao trào. Đỉnh điểm của sự ám ảnh là chi tiết bức tượng cô gái trong công viên Thống Nhất rơi lệ bằng máu mỗi khi một người trong nhóm bạn nằm xuống – một ẩn dụ nghệ thuật xuất sắc về nỗi đau của hậu phương và sự hy sinh không gì bù đắp nổi của tuổi trẻ Thủ đô.
Tuy nhiên, vượt lên trên những bi thương và mùi khét của cỏ cháy trên chiến trường, bộ phim vẫn lấp lánh những giây phút bình yên của tình đồng chí, đồng đội và niềm tin bất diệt vào ngày chiến thắng. Ba trong số bốn người bạn đã mãi mãi nằm lại mảnh đất Quảng Trị, để rồi Hoàng – người duy nhất trở về sau ngày 30/4/1975 – phải sống thay cho cả những phần đời đã mất.

Câu hỏi “Vì sao chỉ có một người trở về?” không chỉ là sự day dứt của cá nhân nhân vật mà còn là lời nhắc nhở nghiêm khắc đối với thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình. Độc lập, tự do không phải là điều tự nhiên mà có; nó được đánh đổi bằng sự đứt gãy của hàng ngàn giấc mơ xanh, bằng máu và nước mắt của một thế hệ “mãi mãi tuổi hai mươi”.

Về mặt chính luận, “Mùi cỏ cháy” đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một tác phẩm điện ảnh chính luận khi phê phán tội ác chiến tranh và tôn vinh những giá trị đạo đức cao đẹp. Bộ phim không tô hồng thực tại, không thần thánh hóa nhân vật mà khắc họa những người lính với đầy đủ nỗi sợ hãi, sự hoảng loạn nhưng trên hết là ý chí vượt lên nghịch cảnh để phụng sự Tổ quốc. Thông điệp mà đạo diễn Nguyễn Hữu Mười gửi gắm qua từng khung hình là sự kết nối giữa quá khứ và tương lai, là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với lịch sử dân tộc. Khi chiến tranh lùi xa, “Mùi cỏ cháy” vẫn vẹn nguyên giá trị như một lời cảnh tỉnh về ảo vọng bạo lực và là bài học sâu sắc về lòng biết ơn.
Hôm nay, khi đứng trước dòng sông Thạch Hãn hay bước đi trên thảm cỏ xanh mướt của Thành cổ Quảng Trị, ta dường như vẫn nghe thấy tiếng ve sầu, tiếng đọc thơ của những chàng sinh viên năm ấy.
“Mùi cỏ cháy” không chỉ là một bộ phim, nó là tiếng vọng từ quá khứ, là khúc tráng ca bất tử nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay chính là di sản vô giá được xây đắp từ những tuổi xuân đã hóa thân vào cỏ cây, sông núi. Đó là một tác phẩm điện ảnh cần được xem đi xem lại, để mỗi người tự soi rọi lại bản thân và thêm trân quý giá trị của cuộc sống yên bình đang có.
